Sign up

Ai cũng biết tác hại, sao vẫn cứ làm hả giời???

Published on 10:47, 04/25,2009

Bô-xít và hệ lụy môi trường ở Trung Quốc 15/12/2008 13:44 (GMT + 7) Chính quyền các tỉnh Trung Quốc đã bắt đầu hướng đến việc điều chỉnh khai thác bôxit khi môi trường bị ảnh hưởng nghiêm trọng từ việc khai thác nguồn khoáng sản này. Ngày 10-12, trang web chính quyền tỉnh Hà Nam đưa tin tỉnh vừa ban hành quy định “Chấn chỉnh tình hình khai thác than và bôxit” và “Quy hoạch và sử dụng nguồn bôxit”. Theo đó, các doanh nghiệp khai thác bôxit chính quy phải trả lại hiện trạng đất đai như ban đầu sau bốn năm khai thác, nếu không đáp ứng tiêu chuẩn này sẽ bị đóng cửa vĩnh viễn. Một loạt biện pháp tương tự cũng được đưa ra tại những tỉnh tập trung mỏ than, bôxit lớn ở Trung Quốc. Hệ lụy môi trường Là một nước sản xuất và tiêu thụ nhôm lớn nhất thế giới, cùng với tham vọng trở thành một trong những quốc gia sản xuất xe hơi và máy bay lớn trên thế giới, Trung Quốc đang trở thành một con hổ đói bôxit để phục vụ ngành công nghiệp nhôm nội địa. Năm 2004, tại Ấn Độ đã diễn ra phong trào chống các công ty khai thác bôxit sau khi Chính phủ Ấn Độ, nước có trữ lượng bôxit lớn thứ sáu thế giới, cấp giấy phép cho 13 công ty đa quốc gia vào khai thác quặng bôxit tại bang Orissa. Các dự án khai khoáng đã ảnh hưởng tới 60.000 cư dân sinh sống trong vùng. Một diện tích đất nông nghiệp gần 1.000ha đã hoàn toàn bị hủy hoại. Theo Hiệp hội Bảo tồn sinh học nhiệt đới, những cảnh báo đã được đưa ra vào các năm 2006 và 2008 khi các công ty khai thác bôxit lăm le tấn công những vùng thiên nhiên được bảo tồn tại Surinam và Jamaica, lần lượt xếp thứ 5 và 10 trong số những nước có nguồn quặng bôxit dồi dào nhất. HẢI MINH Vấn đề đặt ra ở đây chính là hệ sinh thái xung quanh những nơi khai thác quặng mỏ, đặc biệt là bôxit, ở nước này đã bị hủy hoại nghiêm trọng. Theo Chinanews, nhiệt độ quanh khu vực quặng mỏ ở Thái Nguyên (Sơn Tây), Tịnh Tây (Quảng Tây) đã tăng cao một cách bất thường kể từ khi những mỏ khai thác bôxit được dựng lên ở đây. Nguồn nước xung quanh các khu vực này trở nên ô nhiễm nghiêm trọng, ảnh hưởng đến sức khỏe và tính mạng của hàng triệu người dân. Từ năm 2004-2008, chính quyền tỉnh Hà Nam đã đóng cửa hơn 100 mỏ khai thác bôxit có quy mô nhỏ trong toàn tỉnh, trong đó lớn nhất là quyết định ngưng dự án khai thác bôxit để sản xuất nhôm trị giá 1,5 tỉ nhân dân tệ ở huyện Nhữ An chỉ sau một năm đưa vào hoạt động do gây ô nhiễm nguồn nước xung quanh khu vực khá nặng nề.Nhật Báo Quảng Tây cho biết vụ ô nhiễm do khai thác bôxit gần đây nhất là ở mỏ bôxit Tịnh Tây. Chỉ mới khai thác hơn một năm nhưng mỏ này đã làm nguồn nước xung quanh khu vực nhiễm màu đỏ quạch khiến người dân trong khu vực không thể sử dụng được nguồn nước để sinh hoạt, kéo theo là những chứng bệnh lạ. Đóng cửa hơn 100 mỏ bôxit Nguồn nước đỏ quạch do khai thác mỏ bôxit thải ra ở Hà Nam, Trung Quốc (Ảnh: sina.cn) Năm 2004, tại Ấn Độ đã diễn ra phong trào chống các công ty khai thác bôxit sau khi Chính phủ Ấn Độ, nước có trữ lượng bôxit lớn thứ sáu thế giới, cấp giấy phép cho 13 công ty đa quốc gia vào khai thác quặng bôxit tại bang Orissa. Các dự án khai khoáng đã ảnh hưởng tới 60.000 cư dân sinh sống trong vùng. Một diện tích đất nông nghiệp gần 1.000ha đã hoàn toàn bị hủy hoại. Theo Hiệp hội Bảo tồn sinh học nhiệt đới, những cảnh báo đã được đưa ra vào các năm 2006 và 2008 khi các công ty khai thác bôxit lăm le tấn công những vùng thiên nhiên được bảo tồn tại Surinam và Jamaica, lần lượt xếp thứ 5 và 10 trong số những nước có nguồn quặng bôxit dồi dào nhất. Để hạn chế thực trạng khai thác bôxit bừa bãi gây ảnh hưởng đến môi trường và duy trì nguồn bôxit của quốc gia, từ năm 2006 Chính phủ Trung Quốc đã thực thi quy định về “pháp lệnh nguồn tài nguyên khoáng sản”. Theo đó, các địa phương trên toàn quốc phải chấn chỉnh ngành khai thác mỏ, đặc biệt chú trọng đến việc khai thác bôxit. China Daily cho biết từ năm 2005 đến nay, Cục Bảo vệ môi trường quốc gia Trung Quốc đã xử lý hàng chục ngàn vụ gây ô nhiễm môi trường, trong đó đóng cửa hơn 100 mỏ khai thác bôxit trên khắp đất nước. Theo mạng bảo vệ môi trường Trung Quốc, cuối năm 2006 tỉnh Sơn Tây đã đưa ra quy định “quản lý nguồn tài nguyên khoáng sản trong vùng, trong đó chú trọng đến tiêu chuẩn khai thác bôxit trong vùng”. Nếu các doanh nghiệp khai thác bôxit không đáp ứng được yêu cầu bảo vệ môi trường, phục hồi đất đai và không đạt chuẩn sẽ bị cấm khai thác, nếu quy mô khai thác dưới 1.000 tấn sẽ bị đóng cửa hoặc không cấp phép khai thác mới. Ngoài ra các tỉnh như Sơn Đông, Quý Châu, Hà Nam còn quy định các doanh nghiệp đạt chuẩn khai thác bôxit phải có báo cáo đánh giá ảnh hưởng của môi trường địa chất xung quanh khu vực định khai thác, nếu đáp ứng được yêu cầu của cơ quan môi trường mới được cấp phép hoạt động. Chuyển hướng ra nước ngoàiTheo trang web khai thác khoáng sản Trung Quốc, trữ lượng bôxit đã được thăm dò của Trung Quốc đạt khoảng 200 triệu tấn, chỉ chiếm 2% tổng trữ lượng bôxit của thế giới. Lượng bôxit này phân bố trên 20 khu vực và tỉnh thành, phần lớn các mỏ bôxit lớn tập trung ở các tỉnh Sơn Tây, Sơn Đông, Quý Châu và khu tự trị dân tộc Choang Quảng Tây. Báo The Chinanews dẫn nguồn tin từ Tập đoàn Sản xuất nhôm Trung Quốc (Chinalco) cho biết nhằm đáp ứng nguồn cung ổn định cho các công ty sản xuất nhôm nội địa, hằng năm Trung Quốc phải nhập một lượng bôxit khá lớn, chiếm 1/3 tổng trữ lượng bôxit trong nước. Chính vì nhu cầu tiêu thụ quá lớn, nên ngay từ năm 2006 Chính phủ Trung Quốc đã “bật đèn xanh” cho các doanh nghiệp sản xuất nhôm đổ bộ khai thác bôxit ở nước ngoài theo kế hoạch “quốc tế hóa chiến lược kinh doanh” cho các doanh nghiệp. Năm 2006, Chinalco đã giành được hợp đồng trị giá 3 tỉ USD đầu tư phát triển mỏ bôxit ở vùng Aurukun phía bắc Cape York, Úc. Mỏ này có trữ lượng lên đến hàng trăm triệu tấn. Trung Quốc để mắt đến Úc bởi đất nước này có trữ lượng bôxit chiếm 22% trữ lượng của thế giới. Theo Cri.com, các đối tác mà Trung Quốc đã và đang nhắm đến là VN và Brazil. Mỹ Loan (Theo Tuổi Trẻ)


Chống tham nhũng bắt đầu từ trên

Published on 17:34, 04/13,2009

Nghiêm khắc với mình, nghiêm khắc với quần thần, “phải chống tham nhũng từ nóc” chính là điều kiện tiên quyết để xây dựng một xã hội no đủ. Một nhà nước thịnh trị phải được lòng dân, được dân tin yêu- Đó là quan niệm của vua Minh Mạng về chống tham nhũng. Một nhà nghiên cứu lịch sử có uy tín sau khi đọc những giải pháp về chống tham nhũng liền gợi ý: Chẳng cần tìm đâu xa, cứ tìm trong sử sách của dân tộc, cha ông chúng ta tài tình lắm. Người xưa đã có những giải pháp rất giỏi, rất hiệu quả để chống tham nhũng, đấy là bài học từ lịch sử, có cơ sở thực tế nhất. Đúng là trải từ Đinh - Lê - Lý - Trần - Lê - Nguyễn, chúng ta đều có những “vua sáng, tôi hiền” thanh liêm và tài trí. Xã hội phát triển vì vua, quan đồng lòng hiệp sức, lấy lợi ích của nhân dân làm trọng. Theo Giáo sư Phan Huy Lê: Trong lịch sử chế độ quân chủ Việt Nam, cải cách của vua Lê Thánh Tông năm 1471 và vua Minh Mạng năm 1831-1832 là hai cải cách hành chính có qui mô toàn quốc và đạt hiệu quả cao nhất. Và kinh nghiệm chống tham nhũng của các bậc tiền bối như Lê Thánh Tông, Minh Mạng là những bài học để ngày nay chúng ta cần suy nghĩ. Vua Minh Mạng. Ảnh: wikipedia Vua Minh Mạng (1820 - 1840), vị vua thứ hai của vương triều Nguyễn, người đặt nền móng tư tưởng cho cả vương triều, cũng là vị vua đã để lại cho đời sau nhiều bài học về tư tưởng trị quốc, là người xây dựng được bộ máy cai trị hoàn chỉnh. Ông đưa ra nhiều chính sách nhằm hạn chế các quan lại trong bộ máy không được nhũng nhiễu nhân dân. Nhiều tư tưởng của ông được thể hiện rất rõ trong sách “Minh Mạng chính yếu”. Đạo đức của người làm vua được ông khái quát rất rõ: “Người làm vua không cần an nhàn, dù tinh thần mệt mỏi cũng phải cố gắng”. Đối với tệ tham nhũng, ông đã có thái độ kiên quyết, xử phạt nghiêm minh. Ai có công thì được thưởng, có tội thì phạt. Từ người đứng đầu trong sạch, công minh… Những bài học về câu chuyện "Chống tham nhũng" không bao giờ là cũ (Ảnh: lanhdao.net) Vua không được chỉ vì quyền lợi cá nhân, dòng tộc. Quyền lợi của Vua - Dân phải gắn chặt, không coi mình như chim ưng dân là chim sẻ “lấy chim sẻ để nuôi chim ưng”. Không kể hoàng thân quốc thích, khi đã có tội dứt khoát phải xử. Ông luôn lấy lời người xưa để tự răn mình: “Nhà dột từ nóc dột xuống” do vậy bản thân phải trong sạch. Trong tiêu dùng cá nhân, mặc dù quyền hành tất cả nằm trong tay, nhưng ông luôn nhắc nhở không được lạm dụng của công. Ngay như công việc khánh tiết ở triều đình, ông nhắc nhở phải tiết kiệm, cho đó là tiền bạc công sức của dân “không phải thiên hạ đóng góp để cung phụng một người”. Ông đã nói với Kiến An - người con cả sau này có thể nối nghiệp rằng: "Bổng lộc của ngươi là dầu mỡ của dân. Ngươi nên nghĩ cách kiệm ước để nối nghiệp nhà, cẩn thận chớ có xa xỉ mà làm hại đức tính. Ta vì thiên hạ giữ gìn của cải sao có thể thường dùng của công trong kho để ban ân huệ riêng." Khi phải sửa sang cung điện, ông chỉ dụ: "Phen này xây cất chỉ cốt làm cho cung điện được dễ xem, đó là việc bất đắc dĩ. Ông dẫn ra các vua đời xưa có thềm đất mái tranh được khen là có kiệm đức. Nhưng việc ấy làm ở đời xưa thì phải chứ làm trong đời nay thì không hợp. Người ta ở đời cốt phải làm việc ích lợi cho dân." Ông luôn phê phán những người chỉ biết đầy đủ một mình, còn người khác vui buồn cũng mặc kệ: “Trẫm thà để sự giàu có ở dân còn hơn” và “nếu cứ ngồi nhìn dân kêu đói thì kho tàng chứa đầy để làm gì”. … đến thẳng tay trừng trị quan lại nhũng nhiễu "Đám cưới chuột" - bức tranh dân gian phê phán nạn tham nhũng xưa (Ảnh: phapluan.net) Vua Minh Mạng luôn cho rằng chỉ có những người có quyền hành trong tay mới nảy sinh tham nhũng. Chính vì vậy ông chủ trương phải làm trong sạch bộ máy, kiên quyết trừng trị những kẻ tham nhũng ức hiếp nhân dân. Ông là người nhấn mạnh nhiều đến khái niệm tham nhũng. Trong quan niệm của mình, Minh Mạng cho rằng quan lại tham nhũng chính là giặc: “Quan lại tham nhũng là giặc, là sâu mọt của dân” và “Nạn giặc giã, cướp bóc cũng từ đó mà sinh ra”. Có lẽ trong lịch sử ông là người đầu tiên nhấn mạnh nhất đến nguy cơ này. Giặc chẳng ở đâu xa mà ở ngay trong nội bộ của mình. Chống tham nhũng như chống giặc là mệnh lệnh, là lương tâm của người đứng đầu bộ máy nhà nước. Đây thực sự là bước tiến lớn, một quan điểm đúng đắn để xây dựng một nhà nước hùng mạnh. Minh Mạng hiểu rất rõ vị trí của quan lại đối với đời sống nhân dân. Quan lại là người thay mặt vua để chăn dắt muôn dân vì vậy phải gần gũi nhân dân, và đòi hỏi ở họ phải làm tròn trách nhiệm, không cậy chức cậy quyền mà ức hiếp ăn chặn của dân. Chuyện kể rằng có quan Hữu thị lang công bộ, quân nội vụ Lê Bá Tú mượn riêng tiền công, việc phát giác, vua đã phải cách chức đeo gông nặng một tháng, hết hạn đánh một trăm roi, sau đó xung lính. Hay như Trần Công Trung, một kẻ cậy quyền thế sách nhiễu dân (đòi hối lộ 10 lạng bạc), vua sai chém ngay mà dụ rằng: "Bình dịch trong kho, thu nhiều phát ít, đòi hối lộ, lợi dụng riêng mình, trẫm rất ghét, pháp luật cốt để tru diệt lòng tham, bằng nay tha một mạng nó thời những kẻ coi thường pháp luật sau này giết sao cho xuể." Quan niệm của ông khi có vụ việc đều phải xử lý dứt điểm nếu không nó trở thành bệnh dịch lan truyền, khó mà chống được. Những câu chuyện chống tham nhũng của Vua Minh Mạng rất có giá trị cho cuộc chiến chống tham nhũng hiện nay (Ảnh: blog Phía Trước) Coi tham nhũng là giặc và trách nhiệm của người đứng đầu Ông đặt trách nhiệm của bộ máy nhà nước là phải bảo đảm cho dân được yên, rất ghét những kẻ ức hiếp nhân dân. Lê Văn Thiện ở Phủ Thường Tín cậy thế, cậy quyền mua rẻ hóa vật của dân, vua sai treo sống ở chợ trong 3 ngày để làm gương cho thiên hạ. Ngoài luật pháp đã nói rất rõ về xử phạt nghiêm minh về tội này, ông cũng thường chỉ dụ quần thần. Trong 10 điều huấn Minh Mạng đưa ra, ngay điều 1 là: Hậu đường thiên lý trong đó nhấn mạnh Nha lại phải coi trọng pháp luật, không được dục khoét của dân, không được lợi dụng chức quyền để tham nhũng tiền bạc của dân, ức hiếp nhân dân. Có thể thấy xuất phát từ tư tưởng “dân là gốc nước, dân không yêu mến thì làm sao có giàu sang lâu bền” là quan điểm xuyên suốt trong tư tưởng của Minh Mạng. Và cũng vì thế, ông đã chăm lo cho dân, đó chính là “kế sâu rễ bền gốc”. Như vậy biện pháp chống tham nhũng ở mỗi thời kỳ có thể sẽ khác nhau nhưng điều quan trọng nhất là quyết tâm của người đứng đầu và sự gương mẫu của họ. Coi tham nhũng là giặc và kiên quyết chống lại nó là định hướng quan trọng hàng đầu. Tính cấp bách của vấn đề đã được Minh Mạng đẩy lên đỉnh cao. Không thể để giặc thôn tính, phá hoại quốc gia thì cũng không thể để giặc “tham nhũng” hủy hoại và tàn phá quốc gia. Điều kiên tiên quyết tiếp theo phải là biện pháp thực hiện. Và Minh Mạng đã chọn bắt đầu từ trên, từ chính mình. Đây là sự dũng cảm dám từ bỏ, dám vượt lên chính mình. Đánh giá về vương triều Nguyễn GS Phan Huy Lê cho rằng: “Những di sản văn hóa mà thời kỳ lịch sử đó đã tạo dựng nên, kết tinh những giá trị lịch sử và văn hóa của dân tộc, thì mãi mãi trường tồn cùng non sông đất nước. Đó là bộ phận quan trọng của di sản văn hóa dân tộc luôn luôn giữ vai trò động lực tinh thần nội tại của công cuộc phục hưng dân tộc, của sự phát triển bền vững của đất nước, nhất là trong thời kỳ công ngiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập của đất nước hiện nay”. 29/03/2009 14:45 (GMT + 7) (TuanVietNam) - Nguyễn Đăng Tấn


Huyền thoại là đây!

Published on 00:32, 04/12,2009

Đây là lần đầu tiên tôi đến Quảng Bình để làm phim và đó lại là một đề tài không dễ: Con đường huyền thoại Trường Sơn tròn 50 tuổi. Sở dĩ tôi chọn Quảng Bình bởi đây là nơi khởi đầu của mạng lưới đường tiếp vận khổng lồ cho chiến trường miền Nam và các nước bạn trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Từ đây, hệ thống đường Trường Sơn mở rộng ra nhiều tỉnh khác: Từ Nghệ An tới tận Bình Phước, vươn sang hai nước bạn Lào và Cam Pu chia (Dĩ nhiên, mong muốn của tôi là thực hiện được nhiều tập phim nữa về tất cả các điểm có liên quan đến đường Trường Sơn). Mặc dù vậy thì riêng địa bàn Quảng Bình cũng đã có quá nhiều sự kiện, câu chuyện cảm động để thực hiện mà trong 10 ngày ở đây, chúng tôi cũng chỉ ghi hình một số. Chúng tôi đã tới gặp được nhiều nhân chứng (mà ai sinh trước năm 1975 ở đây chả có thể làm nhân chứng!): Từ bộ đội tới thanh niên xung phong, từ những người làm trong ngành y, chiếu bóng tới người dân. Điều khiến chúng tôi cảm động nhất là mặc cho thời tiết nắng nóng, dù đang bận làm việc gì, thì khi chúng tôi liên hệ, tất cả đều rất nhiệt tình dẫn chúng tôi ra hiện trường, cung cấp thông tin, tư liệu và trả lời phỏng vấn rất dài. Dường như tinh thần Trường Sơn năm xưa vẫn luôn rực cháy trong họ. Cũng cần phải nói thêm là những người dẫn đường cho chúng tôi - Sở Văn hóa - thể thao và du lịch Quảng Bình – cũng hết lòng giúp đỡ để chúng tôi có thể quay được nhiều tư liệu nhất. Đến Quảng Bình lần này, chúng tôi phải di chuyển khá nhiều, bởi các điểm di tích nằm rải rác từ đầu tỉnh tới cuối tỉnh. Chúng tôi đã tới hang Lèn Hà (huyện Tuyên Hóa) nơi 13 chiến sỹ của đơn vị thông tin A69 hy sinh ngày 2/7/1972; tới thắp hương tại nghĩa trang dành cho lực lượng thanh niên xung phong Tân Ấp và nghĩa trang liệt sỹ huyện Tuyên Hóa, nơi mà có thể người chú thân yêu của tôi cũng đang ở đó. Trên đường 12, chúng tôi đã được cô Trần Thị Thành, chính trị viên của đơn vị TNXP 759 anh hùng, kể lại sự kiện 7 đồng chí trong đơn vị bị bom vùi dưới lòng đường vào ngày 3/7/1966. Để dòng xe vào chiến trường không bị ùn tắc, làm mồi cho máy bay địch, người ta đã phải gạt nước mắt san đường, để hàng nghìn lượt xe nghiến qua người các anh chị. Và phải mất 5 năm, thì thi thể liệt sỹ cuối cùng mới được lấy lên. Có thể nói, các anh chị đã hai lần hy sinh! Còn tại km số 16,5 của đường 20 quyết thắng, chúng tôi đã nghiêng mình trước hang đá nơi 8 thanh niên xung phong đã bị kẹt bên trong bởi một khối đá khổng lồ lấp mất lối ra. Các đồng đội đã nghe thấy tiếng họ kêu cứu mà không có cách nào cứu nổi, đành để họ hy sinh bên con đường của lứa tuổi 20. Mãi gần đây, hài cốt của họ mới được quy tập về nơi an nghỉ cuối cùng. Đi về phía nam tỉnh, tới xã Võ Ninh, huyện Quảng Ninh, chúng tôi tới nhà ông Phạm Đình Dương, người nổi tiếng với câu nói: Xe chưa qua, nhà không tiếc / Đường chưa thông, không tiếc máu xương. Ông cùng với hàng chục gia đình khác trong xã đã dỡ nhà, đào gạch lát nền để làm đường cho xe qua mà không một chút lăn tăn trong lòng. Giờ đây khi đã tuổi cao sức yếu, tâm nguyện duy nhất của ông là làm sao có một khu lưu niệm tại địa phương để con cháu sau này biết được những hy sinh mất mát của thế hệ trước. Cũng trong chuyến đi này, chúng tôi đã gặp ông Lại Tấn Chuyên, người đã cùng mẹ Suốt chèo đò chở bộ đội qua sông Nhật Lệ năm xưa. Sau khoảng 1 năm cùng mẹ Suốt chèo đò, ông vào lực lượng thanh niên xung phong, rồi vào công binh cho tới ngày toàn thắng. Nay ông Chuyên sống thanh đạm bên người vợ hiền bán quán nước và các con cháu, với mức trợ cấp ít ỏi dành cho một thương binh hạng 4/4. Còn rất nhiều những địa danh khác như đèo Đá Đẽo, ngầm Trạ Ang, cầu Ca Tang, phà Xuân Sơn hay phà Long Đại, v.v… mà khi nhắc tới đều đồng nghĩa với sự ác liệt và mất mát. Chúng tôi đã mua rất nhiều hương mà tới chỗ nào cũng cảm thấy thiếu! Và câu chuyện cảm động nhất mà chúng tôi được nghe, đó là từ ông Tô Ngọc Hợp. Ông vốn là người thuyết minh phim cho một đội chiếu bóng lưu động, phục vụ cho lực lượng trên đường Trường Sơn. Một lần, chiếc xe chở đội chiếu bóng của ông bị kẹt tại một cung đường. Trong lúc chờ thông đường, ông được người phụ trách cung đường yêu cầu chiếu một bộ phim ngắn cho lực lượng thanh niên xung phong tại đây được xem, vì đã lâu lắm rồi họ chưa được xem văn công hay xem phim. Phần do chưa thể đi được, phần để giúp nâng cao tinh thần cho các anh chị em, ông đã đồng ý. Và dự định buổi chiếu bắt đầu vào lúc 5 giờ chiều, rồi sau đó mọi người lại ra mặt đường. Nhưng đến 4g30 thì B52 ném bom rải thảm trúng mặt đường. Đơn vị tổn thất nặng nề: 36 chị hy sinh. Đúng 5 giờ, người đội trưởng gặp tổ chiếu phim yêu cầu chiếu phim. Ông Hợp thấy trong doanh trại chỉ có vài người và 3 hàng quan tài mới hỏi: Khán giả đâu? Người đội trưởng chỉ vào những chiếc quan tài và nói: Họ đó. Họ là những người có nguyện vọng được xem phim và giờ đồng chí cứ chiếu cho họ xem cho trọn vẹn. Ông Hợp nuốt nước mắt, chiếu phim để tiễn đưa các các chị về nơi an nghỉ cuối cùng. Có lẽ, đây là một buổi chiếu phim kỳ lạ nhất trong đời làm nghề của ông Hợp. Còn với chúng tôi, chúng tôi hiểu rằng đó chỉ là một trong số vô vàn những điều đã làm nên con đường Trường Sơn huyền thoại. Và điều quan trọng hơn cả, nó nhắc nhở chúng ta hãy sống xứng đáng với sự hy sinh của những người đã cống hiến tuổi xuân cho đất nước thanh bình hôm nay./.


“Hậu” Đỗ Việt Khoa: Cái kết liệu có hậu?

Published on 20:04, 11/30,2008

“Hậu” Đỗ Việt Khoa: Cái kết liệu có hậu? 02:56' 29/11/2008 (GMT+7) -…Tôi gọi đây là lời…chưa kết, bởi chuyện vạch mặt những kẻ ác, cái ác còn gian nan lắm. Vì ngoài việc trực tiếp làm điều ác với một thầy giáo chính trực tại một ngôi trường, ở một địa phương rành rành đó thì sự thỏa thuận với cái ác, cái xấu trên bình diện rộng hẳn còn lớn hơn nhiều… “Cô lập tuyệt đối, chỉ có những ánh mắt thông cảm, thương hại”. Đó là cảm xúc, tâm trạng, hoàn cảnh mà thầy Đỗ Việt Khoa đã và đang trải qua trong chính môi trường sư phạm, nơi mình dạy học. Ra đường hay về nhà, thầy Khoa và gia đình còn bị đe dọa, bị hành hung. Nỗi cay đắng tận cùng vì làm…người tốt ấy, tôi đồ rằng do chính những người “nhân danh…” gây ra. Từ chuyện của thầy Khoa Chúng ta đã quá quen với cái tên Đỗ Việt Khoa- “Người đương thời” dám “một mình chống tiêu cực” trong kỳ thi tốt nghiệp trung học phổ thông năm nào, và nay lại “đơn thương độc mã” tiếp tục. Tôi đồ rằng còn rất, rất nhiều thầy cô vẫn có tinh thần Đỗ Việt Khoa trong mình. Tôi đồ rằng nhiều người trong họ cũng từng lâm cảnh “một mình chống mafia”. Và tôi đồ rằng, nhiều kết quả buồn đã diễn ra… Khi nói về cái xấu, cái ác trong ngành giáo dục bằng một khái niệm cụ thể, thầy giáo Đỗ Việt Khoa đã từng gọi những lãnh đạo, đồng nghiệp thiếu tâm đức của mình là những kẻ “đội lốt giáo viên”…Những người dám thách thức, mạt sát và thậm chí là đe dọa thầy trước mặt các đồng nghiệp, học trò, người thân. Thành tích chống tiêu cực năm 2006 ngày nào khiến thầy trở thành một tấm gương về đạo đức làm thầy thì nay, tiếc thay, nó lại là gánh nặng, là nỗi cay cực của thầy. Sự trù dập một cách tinh vi của những người có thẩm quyền tại cơ sở, sự lạnh nhạt, xa lánh của đồng nghiệp vì sợ liên lụy...Liệu có phải có một “thỏa thuận ngầm” hữu ý và vô tình nào đó mà cái ác, cái xấu, cái chưa tốt, cái đớn hèn đang nắm đằng cán? Lúc ấy, số phận những người có lương tâm, có tư cách người thầy như Đỗ Việt Khoa rất dễ dàng chỉ có một con đường: bị “bắn” khỏi “guồng quay” bằng nhiều cách. Trong đời sống thường nhật, vợ con thầy Khoa sẽ công tác, học tâp sao đây khi bị liên lụy với hệ quả chống tiêu cực của người chồng, người cha. Họ đã và sẽ còn sống trong sợ hãi khi những kẻ vô lương cứ dọa “thịt”, dọa “giết cả nhà”, cô lập, và có thể hành hung họ ở mọi nơi, mọi lúc. Cái kết cục “không chốn dung thân” phải chăng là kết cục tất yếu cho người tốt dám đấu tranh ngay giữa xã hội này? TIN LIÊN QUAN Giám thị Đỗ Việt Khoa, dư âm trước và sau Giám thị Đỗ Việt Khoa bị lập biên bản 3 lần Đỗ Việt Khoa: Góc u tối và sự lấp lánh con tim Đau đớn và phẫn nộ quá! Người viết bài này tự đặt câu hỏi, ai đã dung dưỡng cho những người táng tận lương tâm lộng hành như chốn không người ngay giữa đất kinh kỳ nghìn năm văn vật trong một thời gian dài? Đất nước chúng ta trọng “đạo học”, “đạo làm người”, sao có thể để hiện trạng cái ác nhân danh hoành hành ngang ngược đến vậy? Nhờ Internet, nhờ báo chí, nhờ dư luận mà chúng ta biết một thầy giáo Đỗ Việt Khoa chống tiêu cực, bị trù dập như thế thì trước đây còn có bao nhiêu thầy Đỗ Việt Khoa như thế nữa? Câu hỏi đơn giản này không hiểu có được những người đứng đầu ngành giáo dục suy ngẫm và trả lời? Đến việc cái ác ngụy danh Dù nghe tin Bộ Giáo dục và đào tạo đã cam kết, đã cử thanh tra xuống để kiểm tra, bảo vệ thầy Khoa mà không ít người tốt trong xã hội còn thấy lo và hoài nghi quá… Phó Thủ tướng kiêm Bộ trưởng Bộ GD và ĐT Nguyễn Thiện Nhân nói rằng mình biết việc thầy giáo Đỗ Việt Khoa bị lăng mạ, hành hung và cướp tài sản, đã được công an huyện Thường Tín (Hà Nội) điều tra qua báo chí. Bộ trưởng cũng khẳng định khi thấy đơn từ của thầy Khoa về việc này, Bộ GD và ĐT sẽ vào cuộc ngay. Thú thật, tôi rất băn khoăn…Nên biết rằng chính thầy Khoa là người đầu tiên công khai dám đấu tranh chống tiêu cực trong thi cử năm nào, để từ ngọn lửa dũng cảm ấy, mà Bộ GD và ĐT mới nhóm lên cuộc vận động “Hai không”. Với hành động chính trực này, Bộ trưởng Nguyễn Thiện Nhân khi đó đã cấp bằng khen cho thành tích chống tiêu cực của thầy Khoa. Nhưng “hậu tố cáo”- từ năm 2007 đến nay, “Người đương thời” Đỗ Việt Khoa bỗng dưng…hết thời, khi liên tiếp bị trù dập, đe dọa, bị tấn công và màn “cướp” máy ảnh tại nhà cùng lá đơn tố cáo 10 trang lên Bộ GD và ĐT gần đây mới chỉ là giọt nước tràn ly. Nói là giọt nước tràn ly bởi trong suốt thời gian dài, những mâu thuẫn xoay quanh câu chuyện thầy Đỗ Việt Khoa đã "dám" đấu tranh chống tiêu cực cứ tích tụ mà ở trung tâm của sự đối đầu giữa cái thiện, cái ác, cái tốt cái xấu đó, thầy Khoa luôn là người cô thế. Tôi đồ rằng sự phi lý và phi nhân văn kia tồn tại được và tồn tại dai dẳng bởi những người “đội lốt giáo viên”, cụm từ mà thầy Khoa từng chua chát nhận định. Liệu sẽ có ai bị chỉ đích danh trong "vụ án Người đương thời” đây? Vì từ khi tố cáo tiêu cực đến lúc trở thành “Người đương thời” và rồi lại bị tiêu cực…đè đầu nặng hơn lần trước, liệu thầy Khoa có ngã lòng không? Liệu những “Đỗ Việt Khoa” khác, trên nhiều lĩnh vực khác có ngã lòng không? Tôi mong là không, vì nếu những người tranh đấu miệt mài cho mục đích cuối cùng Chân- Thiện- Mỹ mà ngã lòng thì còn chi nữa mà hy vọng? Nhưng nếu tỉnh Hà Tây (cũ) và một phần Hà Nội bây giờ từng tự hào với văn hóa xứ Đoài sâu lắng mà còn tồn tại một ngôi trường (hay biết đâu nhiều ngôi trường) như Trường THPT Vân Tảo thì nghĩa là còn nhiều, nhiều nữa những ngụy danh, những nhân danh…đáng sợ. Từ “vụ án Người đương thời” với chỉ một thầy giáo Đỗ Việt Khoa ở một Trường THPT Vân Tảo, để nhìn lại cả một nền giáo dục. Từ chuyện nhìn lại nền giáo dục để nhìn lại các ngành khác, nhìn lại cả xã hội. Tôi không thuộc tuýp người bi quan, nhưng chỉ vơí góc độ cá nhân mà nhìn thôi đã thấy âu lo và…hoang mang quá. Lời…chưa kết 20/11- Ngày Nhà giáo Việt Nam, ngày tôn vinh những người thầy cao quý đã hết mình cho nền giáo dục có thêm một ý nghĩa. Vì người thầy chân chính không có một ước mong nào cao quý hơn là chỉ mong những lứa học trò của mình lớn khôn- học để làm người, theo đúng nghĩa. Vì người thầy chân chính không bao giờ cúi đầu trước cái ác, cái xấu như tấm gương của thầy đồ Chu Văn An ngày xưa đã từng dâng Thất trảm sớ vạch tội- xin chém bảy tên gian thần thời vua Trần Dụ Tông. Vì người thầy chân chính không bao giờ ngừng việc làm đẹp cuộc đời dẫu bằng cách “một mình chống mafia”, dẫu khốn đốn sau bao lần bị đe dọa, trù dập, hành hung như thầy Đỗ Việt Khoa của hôm nay. Vì thế, tôi gọi đây là lời…chưa kết bởi chuyện vạch mặt những kẻ ác, cái ác còn gian nan lắm. Vì ngoài việc trực tiếp làm điều ác với một thầy giáo, tại một ngôi trường, ở một địa phương rành rành đó thì sự thoả thuận với cái ác, cái xấu trên bình diện rộng hẳn còn lớn hơn nhiều. Hãy tạm gọi là lời chưa kết vậy, vì cuộc đấu tranh chống tiêu cực của thầy Khoa đã có “cái kết” có hậu nào đâu? Chi Mai Tôi muốn mượn những suy nghĩ của tác giả Chi Mai để bày tỏ nỗi lòng của mình, chia xẻ với tấm gương dũng cảm của thầy Khoa mà thấy xấu hổ cho bản thân mình và cũng thấy đau lòng cho xã hội đang ngày càng trở nên vô cảm của chúng ta.


Thưa các cô chú làm ở Đài truyền hình Việt Nam!

Published on 11:02, 11/29,2008

Thưa các cô chú làm ở Đài truyền hình Việt Nam! Thứ tư, 19/11/2008, 07:00 GMT+7 Đứa trẻ ngơ ngác ngước cặp mắt lên nhìn vào máy ảnh. Cái đôi mắt háo hức lần đầu thấy mình không phải qua gương, đôi mắt miền bán sơn địa đen mở to lạ lùng. Nhưng chính giây phút trong veo ấy, chúng tôi lại thấy mình như mắc lỗi. Vì cớ gì, đôi mắt trong vắt kia lại có thể bầu bạn với trò chơi sấp ngửa, xúc xắc đỏ đen? Câu hỏi buộc lòng chúng tôi phải viết, kính thư đến các bác các cô làm ở Đài truyền hình cả nước. 1. Sẽ có bạn đọc hỏi ngay : việc những đứa trẻ bán sơn địa chơi những trò ấy thì có liên quan gì đến truyền hình? Đó là lẽ tự nhiên như mưa thì Hà Nội lụt thôi. Cần gì phải bàn tới cho tốn giấy mực. Xin thưa rằng, chuyện chúng tôi sắp kể không tầm phào mà trái lại, nó là câu chuyện về một thể hệ, một lớp người đang hình thành nhân cách. Chắc hẳn, bạn đọc để ý thấy, khoảng hơn một tháng trở lại đây, Truyền hình Việt Nam có phát sóng bộ phim Singapore tựa đề: Ván bài đen tối. Bộ phim được nước bạn sản xuất đã khá lâu với những cảnh quay kỹ xảo siêu tưởng. Nội dung không có gì nổi bật khi kể về cuộc đời – cuộc tình của một ông vua bài vu vơ tên Ngôn Phi. Rằng, chàng với tài đánh bạc “cái thế” đã vượt qua số phận, lật được bao mưu mô, lấy người đẹp, đẻ con khôn và tiếp tục gây dựng sự nghiệp của mình. Nghĩa là, cốt phim dựng quanh chuyện đen đỏ, dựng đến độ người xem nhầm tưởng rằng: bộ phim tôn vinh nó, cổ súy và kêu gọi mọi người làm theo. (Dẫu tựa là Ván bài đen tối – nhưng cách thức xoáy vào thủ thuật chơi bạc đã khiến khán giả hiểu theo hướng này). Và thế là, người ta xem phim như xem một seri ảo thuật, mà ở đó, nhân vật giỏi hơn cả David Coppefield, những quân bài như có sự sống, uốn éo thành rồng và phượng. Sự gay cấn luôn được đẩy đến cao trào với nhiều cuộc đọ sức giằng co đến phút chót. Chính độ hấp dẫn lạ lùng của bộ phim đó đã khiến các bác, các cô ở Đài quyết mua bản quyền phim để phát vào giờ “gần vàng” của sóng? Và phải chăng, cũng chính những kỹ xảo, triết lý sống đặc biệt đến méo mó của các nhân vật trong phim đã hút người xem lại màn hình? Về khoản ấy, quả thật chúng tôi vẫn còn phân vân lắm lắm. Nhưng chỉ biết một điều, trong số những khán giả ngồi trước ti vi kia, có một số lượng không nhỏ những đứa trẻ sơn cước huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang ngây thơ chúng tôi đã gặp. Ảnh: tác giả cung cấp Những người chọn phim ở Đài truyền hình đã bao giờ nghĩ: Phim mình mua bản quyền phát lại cho đồng bào mình xem hướng tới nhóm công chúng nào chưa? Đã bao giờ các bác đi thật xa ra khỏi lòng những thành phố lớn để xem tác động của nó đến mọi người thế nào chưa? Còn riêng ở cái mảnh đất nghèo nàn và cằn cỗi chúng tôi vừa đi qua này, những đứa trẻ ngày còn bơi thuyền vượt lũ đến lớp, tối tối đã quây tròn quanh một chiếc bàn con, xúc xắc đỏ đen như những thần tượng trên màn ảnh. T- đứa bé lớn nhất chừng 14 tuổi thoăn thoắt đảo mấy chiếc cốc hoa hồng hàng ngày bố uống rượu, mắt nheo nheo đầy thích thú. Xung quanh, một lũ nhỏ hơn, da còn đen nhẻm đất bùn, lặng thinh theo dõi. Tiếng thành chén va nhau lanh canh. Vật được giấu trong cũng lanh canh mà thách đố. Xong việc, T hào hứng: - Tao đố chúng mày chiếc cốc nào có hòn đá? Không khí im lặng căng thẳng ngay lập tức bị phá vỡ. Cả lũ nhao nhao đòi thử. Cốc này phải không, tao thấy tay mày bỏ đá vào đó. Không, cốc này cơ, mắt mày toét hả? Chúng mày sai hết cả rồi, chả có cốc nào đúng cả, vì chính mắt tao thấy hòn đá bị văng ra lúc đảo mà… Đủ mọi phỏng đoán được đưa ra, nhưng chủ trò thì vẫn cười cười mà không mở. Thế mới thêm phần bí mật, thế mới giống anh Ngôn Phi nào đó trên màn ảnh. Sau rốt, T hớn hở he hé một chiếc hoa hồng ra, viên đá xù xì đen đúa của vùng bán sơn địa lộ ra trong những tiếng ồ à của lũ trẻ. Ấy mà chưa hết, giá các bác thuộc Trung tâm bản quyền phim truyền hình có chứng kiến tiếp, chắc hẳn sẽ phải xin mua lại ý tưởng của các em với cái giá không hề nhỏ. Sau khi kết thúc trò chơi đầu tiên, những em đoán sai tự động đứng dậy, đưa tay tát cái bốp vào má mình. Mà tát phải đỏ lên nhé. Tát làm sao cho đom đóm mắt cứ nổ gọi là. Tiếng kêu phải thật giòn giã kia. 5 đầu ngón tay phải hằn hằn trên má. - Sao các cháu lại phải tự đánh mình? - Vì theo giao kèo, ai thua phải tự vả mình chú ạ - T hớn hở bảo. Chúng tôi bỗng giật mình vì hình như cái triết lý sống méo mó của nhân vật: Dám chơi dám chịu phạt đã ăn rất sâu vào tâm trí những đứa trẻ nghèo ven dòng sông Thương này mất rồi. Đến độ, chúng hóa thân tận cùng vào những trò đen đỏ, để đem cả bản thân mình ra làm “kèo” cho những đồng xúc xắc. Các bác Truyền hình kính mến, nếu các bác chịu quá bộ ra khỏi lòng phố một chút ít thôi, các bác sẽ gặp được rất nhiều cảnh đau lòng như thế đấy. Cả một thế hệ đang lớn lên, ngày ngày say mê xem phim của các bác. Lượng người xem tăng cao, quảng cáo nhiều. Và nhân cách các em cũng dần dần bị méo mó đi. Với các em, khi đã ngồi bên mấy bộ bài, cái chén, con xúc xắc, các em chỉ tưởng mình là những Ngôn Phi nào đó; chỉ biết nhìn nhận một chiều để dùng đỏ đen phân cao thấp. Mối quan hệ bạn bè bỗng dưng biến thành quan hệ của người sai bảo và kẻ bị khiến. Những vết đỏ lịm của 5 ngón tay trên má các em như một vết cứa vào văn hóa và tương lai đất nước." Ảnh: tác giả cung cấp 2. Nói to tát thế, nhưng tôi biết, những đứa trẻ kia cũng không cần đến cái thằng tôi phải dạy dỗ chúng, hay lên tiếng hộ. Chúng vốn chỉ quen với sông rộng, đồi dài; với những chuyến đò chở khách qua sông. Có được một trò chơi mới, một thần tượng mới là cả niềm ước vọng. Tôi cũng đã chứng kiến, em bé 7 tuổi úp 2 chiếc chén lên nhau, đổ đầy nước vào và gạt gạt uống như thời Tùy Đường bên Trung Quốc. Lại thấy có bé nằng nặc đòi mẹ mua cho khẩu súng đồ chơi, rồi tự hóa thân thành một chàng Tom Cruise tít tận trời Tây mà ra tay hiệp nghĩa. Và đến giờ, lại là những Thần bài nhỏ xíu, túm năm tụm bẩy với đôi mắt trong đầy háo hức. Phải chăng, các nhà làm phim và phụ trách phim Việt đã đánh rơi mất các em trên hành trình phát triển của mình. Tôi không nắm được kế hoạch phát triển của đài ta về lĩnh vực đó. Nên, khi T – sau khi bị thua đã lủi thủi tự vả miệng kéo kéo tôi hỏi: Phim có còn phần 3 không hả chú? Tôi chỉ biết cười. Chắc là sẽ không có đâu các cháu ạ. Vì các bác làm trên Đài chắc cũng sẽ có những đứa con như các cháu – trắng như một tờ giấy mới. Các bác ấy chắc sẽ không muốn tự tô đen lên chính tương lai của mình đâu. 3. Có một nghịch lý nữa là trong khi phim chiếu ngoài rạp cho một số ít người xem được biên tập rất kỹ, những cảnh nóng và bạo lực đều cắt; thì phim cho mọi người lại không hẳn thế. Ván bài đen tối là câu chuyện của đỏ đen, xúc xắc. Vậy nên làm sao mà bỏ những đoạn nhân vật chơi bài như nghệ sĩ được? Nghệ sĩ đến mê mẩn và lệch lạc. Địa phận bến phà Đồng Việt, xã Đồng Việt, huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang mà tôi nói đến trong bài viết chỉ cách thủ đô chừng 100km. Đó là khoảng khá xa về địa lý, nhưng chắc hẳn không xa về lòng người. Bởi, các bác, các cô bao nhiêu người có con nhỏ, bao nhiêu con nhỏ đang xem phim và bao nhiêu phim có nội dung giáo dục tốt? Vậy nên, chúng tôi buộc lòng phải viết một kính thư gửi các bác, các cô, các chú làm Đài tha thiết mong muốn: trẻ em chưa thể tự nhận thức được đúng sai, hay dở. Trong đầu óc các em chỉ có những khuôn mẫu. Xin đừng tạo ra hay nhập về những khuôn mẫu làm “đen tối” các em trước tuổi. Suy đến cùng, thật ra đó là cách thức nhanh nhất góp phần làm hỏng một thế hệ đang hình thành về nhân cách. Trong bối cảnh phim truyền hình Việt đang bị đánh giá là bão hòa, nhàn nhạt với những khuôn mặt đẹp vô hồn và nội dung gượng ép, việc Đài TH cho phát sóng những bộ phim cũ của các nước một cách không chọn lọc càng khiến cho chất lượng sóng hình giảm xuống. Khán giả buộc phải xem những thước phim kỹ xảo vụng về, ý tưởng sơ sài và nhất là nội dung không mang tính giáo dục rõ nét. Như Ván bài đen tối – mặc dù có mục tiêu phơi bày cho người xem thấy mặt trái của cờ bạc, nhưng cách xây dựng tình tiết và nhân vật quá chú trọng tôn vinh tài đánh bạc đã khiến khán giả có suy nghĩ: Đây là một bộ phim cổ súy mang màu sắc xã hội đen (một dòng phim Hồng Kông những năm 90 của thế kỷ trước – với một bộ phim có nội dung tương tự: Vua cờ bạc). Mặt khác, các mối quan hệ gia đình bạn bè của các nhân vật đều được giải quyết bằng trò đỏ đen càng khiến cho tư duy phim rối rắm, siêu thực và phản giáo dục. Về vấn đề này, ông Peter – chuyên gia Tâm lý – truyền thông Đức tại HVBCTT đã khẳng định: “Phim chân chính có thể nói đến những mặt trái của xã hội như bạo lực, tình dục, cờ bạc; nhưng không được để người xem hiểu lầm là đang cổ xúy cho những hành động đó”. Thiết nghĩ, các bác là Truyền hình VN cũng nên lắng nghe và tham khảo. Lưu Sơn Một bài viết rất hay của tác giả Lưu Sơn nhân bàn về những tác động của truyền hình tới đời sống con người. Sẽ là một hậu quả ghê gớm nếu chúng ta không ý thức được những gì ta đưa tới cho công chúng. Xin đưa về blog như một lời chia xẻ và cũng để tự nói lên nỗi xấu hổ của mình.....


Nguyễn Phúc Nguyên: vị chúa kỳ công mở cõi đầu thế kỷ XVII

Published on 11:19, 11/22,2008

Nguyễn Phúc Nguyên: vị chúa kỳ công mở cõi đầu thế kỷ XVII 22/11/2008 08:15 (GMT + 7) Chúa Đàng Trong [Chúa Nguyễn Phúc Nguyên] không đóng cửa trước một quốc gia nào, ngài để cho tự do và mở cửa cho tất cả người ngoại quốc cùng với tàu chở rất nhiều hàng hoá. Trong bối cảnh giao lưu buôn bán quốc tế tấp nập và sôi động như vậy, Hội An những thập kỷ đầu thế kỷ XVII đã đột khởi trở thành một đô thị, cảng thị quốc tế tiêu biểu ở khu vực châu Á. Nguyễn Phúc Nguyên - bậc thông minh, tài trí hơn người Nguyễn Phúc Nguyên là con thứ 6 của chúa Nguyễn Hoàng, sinh năm Quý Hợi (1663), sau khi Nguyễn Hoàng đã vào trấn thủ ở Thuận Hoá được 5 năm. Là người đại diện cho xu thế phát triển của đất nước, Nguyễn Hoàng quyết chí vào Nam dựng nghiệp với hàng loạt những dự định lớn lao. Ông toàn tâm, toàn ý chăm lo phát triển kinh tế, tăng cường tiềm lực về mọi mặt, mở cửa buôn bán với nước ngoài để phát huy sức mạnh trong nước và dự tính những bước đi xa hơn cho các thế hệ con cháu. Lê Quý Đôn, người đứng trên lập trường của chúa Trịnh cũng không thể không ca ngợi: “Đoan quận công có uy lược, xét kỹ nghiêm minh, không ai dám lừa dối… chính sự khoan hoà, việc gì cũng thường làm ơn cho dân, phép tắc công bằng, nghiêm giữ quân sĩ có kỷ luật, cấm chấp kẻ hung bạo. Quân dân hai xứ đều mến yêu kính phục; thay đổi phong tục xấu, ai ai cũng cám ơn và mến đức. Chợ không có hai giá, trong dân gian không có trộm cướp, đêm không phải đóng cổng; thuyền ngoại quốc đến buôn bán, việc giao dịch phân minh, ai cũng cố gắng, toàn cõi nhân dân an cư lạc nghiệp. Hàng năm nộp thuế má để giúp việc quân, việc nước, triều đình cũng được nhờ” [1]. Trong số các con trai của Nguyễn Hoàng, người con đầu là Hà, con thứ hai là Hán, con thứ ba là Thành, con thứ tư là Diễn đều đã mất sớm; người con thứ năm là Hải thì phải gửi lại trên đất Bắc làm con tin, chỉ còn một mình Nguyễn Phúc Nguyên là người có đủ khả năng và điều kiện kế nghiệp cha. Tuổi nhỏ Nguyễn Phúc Nguyên đã tỏ ra là bậc thông minh, tài trí hơn người. Lớn lên ông càng bộc lộ tài năng kiệt xuất “ngày thường cùng các tướng bàn luận việc binh, tính toán có nhiều việc đúng. Thái Tổ biết có thể trao phó nghiệp lớn, vẫn để ý tới” [2]. Nguyễn Phúc Nguyên đã không phụ lòng tin của cha, thực hiện đầy đủ và trọn vẹn tất cả những gì mà người cha - chúa Nguyễn Hoàng trông đợi và uỷ thác. I. Xây dựng một vương triều độc lập, thoát ly hẳn sự lệ thuộc với triều đình vua Lê chúa Trịnh Đây là mục tiêu số một của Nguyễn Hoàng khi quyết định vào Nam dựng nghiệp. Tuy nhiên do điều kiện và hoàn cảnh lúc đó, ông phải hết sức kín đáo để tránh mọi sự hoài nghi của chúa Trịnh. Trên danh nghĩa và cả trong thực tế, Nguyễn Hoàng vẫn phải giữ quan hệ lệ thuộc với chính quyền Lê - Trịnh, vẫn làm tướng tiên phong của Nam Triều đi đánh dẹp các dư đảng của nhà Mạc ở Sơn Nam, Hải Dương, Sơn Tây, Thái Nguyên… Cuối năm 1600, sau khi quyết định trở về ở hẳn Thuận Hoá, đẩy mạnh xây dựng chính quyền độc lập và không nghĩ đến việc quay trở về yết kiến vua Lê nữa, Nguyễn Hoàng vẫn phải giữ quan hệ hoà hiếu với chính quyền Lê - Trịnh, hàng năm vẫn phải nộp thuế má và xin kết nghĩa thông gia với Trịnh Tùng. Sự nghiệp xây dựng một vương triều độc lập của Nguyễn Hoàng tuy đã có cơ sở bước đầu nhưng vẫn còn hết sức mong manh. Đây chính là điều ông trăn trở nhất và cũng là sự uỷ thác cao nhất cho Nguyễn Phúc Nguyên trước lúc qua đời. Sách Đại Nam thực lục Tiền biên chép: “Chúa yếu mệt, triệu hoàng tử thứ sáu và thân thần đến trước đền trước giường, bảo thân thần rằng: “Ta với các ông cùng nhau cam khổ đã lâu, muốn dựng lên nghiệp lớn. Nay ta để gánh nặng lại cho con ta, các ông nên cùng lòng giúp đỡ, cho thành công nghiệp”. Rồi chúa cầm tay hoàng tử thứ sáu dặn bảo rằng: “Làm con phải hiếu, làm tôi phải trung; anh em trước hết phải thân yêu nhau. Mày mà giữ được lời dặn đó thì ta không ân hận gì”. Lại nói: “Đất Thuận Quảng phía Bắc có núi Ngang [Hoành Sơn] và sông Gianh [Linh Giang] hiểm trở, phía nam ở núi Hải Vân và núi Đá Bia [Thạch Bi Sơn] vững bền. Núi sẵn vàng sắt, biển có cá muối, thật là đất dụng võ của người anh hùng. Nếu biết dạy dân luyện binh để chống chọi với họ Trịnh thì đủ xây dựng cơ nghiệp muôn đời. Ví bằng thế lực không địch được, thì cố giữ vững đất đai để chờ cơ hội, chứ đừng bỏ qua lời dặn của ta” [3]. Thực hiện Di chúc của người cha, Nguyễn Phúc Nguyên đã từng bước ly khai hẳn với triều đình Lê - Trịnh, không chịu nộp thuế, không về chầu triều đình và đánh bại cuộc tấn công quy mô lớn của Trịnh Tráng vào năm 1627, mở đầu cho cuộc chiến tranh Trịnh - Nguyễn kéo dài 45 năm (từ năm 1627 đến năm 1672) với 7 chiến dịch quy mô lớn (trong đó có 6 cuộc quân Trịnh chủ động tấn công vào địa phận của chúa Nguyễn). Về hình thức thì đây là cuộc nội chiến ác liệt, kéo dài và không phân thắng bại, nhưng nếu xét theo mục đích của cuộc chiến tranh thì thất bại lại thuộc về chính quyền Lê - Trịnh. Lâu nay có nhiều cách đánh giá khác nhau về cuộc nội chiến Trịnh - Nguyễn. Đương nhiên cuộc chiến tranh đã tiêu huỷ sức người, sức của, triệt phá đồng ruộng xóm làng và dẫn đến chia cắt đất đai thống nhất của quốc gia Đại Việt thì ai cũng nhìn thấy rõ. Chúng ta không thanh minh, không bao biện cho các cuộc chiến tranh, nhất là các cuộc nội chiến huynh đệ tương tàn, nhưng chúng ta cũng không đánh đồng các bên tham chiến. Có thể nói việc Nguyễn Phúc Nguyên tìm mọi cách tách Thuận Quảng ra khỏi sự kiểm soát của chính quyền Lê - Trịnh không phải chỉ là hành động cát cứ phong kiến đơn thuần vì lợi ích của dòng họ Nguyễn. Nó còn phản ánh một ước nguyện muốn thực thi những chính sách cai trị khác với đường lối chính trị của Đàng Ngoài lúc đó đang theo xu hướng hoài cổ rập khuôn thời Lê sơ, kìm hãm sự phát triển của xã hội. Về mặt khách quan việc làm của Phúc Nguyên có lợi cho xu thế phát triển của lịch sử dân tộc” - GS.TSKH Vũ Minh Giang. Hy vọng rồi đây cuộc nội chiến Trịnh - Nguyễn sẽ được nghiên cứu đầy đủ và kỹ lưỡng hơn, chúng ta sẽ có những đánh giá khách quan và chính xác về nó, nhưng trong điều kiện của tư liệu ngày nay, dưới cái nhìn toàn diện về xu thế đang lên của vương triều chúa Nguyễn, chúng tôi tin rằng nhận định sau đây của GS.TSKH Vũ Minh Giang là có sức thuyết phục: “Có thể nói việc Nguyễn Phúc Nguyên tìm mọi cách tách Thuận Quảng ra khỏi sự kiểm soát của chính quyền Lê - Trịnh không phải chỉ là hành động cát cứ phong kiến đơn thuần vì lợi ích của dòng họ Nguyễn. Nó còn phản ánh một ước nguyện muốn thực thi những chính sách cai trị khác với đường lối chính trị của Đàng Ngoài lúc đó đang theo xu hướng hoài cổ rập khuôn thời Lê sơ, kìm hãm sự phát triển của xã hội. Về mặt khách quan việc làm của Phúc Nguyên có lợi cho xu thế phát triển của lịch sử dân tộc” [4]. Từng bước ly khai khỏi chính quyền nhà Lê Năm 1613 được lên ngôi chúa thì ngay năm sau, năm 1614 Nguyễn Phúc Nguyên quyết định bãi bỏ Đô ty, Thừa ty, Hiến ty theo thiết chế quân sự của hệ thống chính quyền nhà Lê. Tại Chính dinh, ông đặt ra ty Xá sai (coi việc văn án từ tụng, do Đô tri và Ký lục giữ), Tướng thần lại (coi việc trưng thu tiền thóc, phát lương cho quân các đạo, do Cai bạ giữ) và Lệnh sử (coi việc tế tự, lễ tiết và chi cấp lương cho quân đội Chính dinh, do Nha uý giữ). Bên cạnh đó còn các ty Nội Lệnh sử kiêm coi các thứ thuế, Tả Lệnh sử và Hữu Lệnh sử chia nhau thu tiền sai dư ở hai xứ về nộp Nội phủ. Tại các dinh ở ngoài, tuỳ theo từng nơi, có nơi Nguyễn Phúc Nguyên chỉ đặt một ty Lệnh sử, nhưng cũng có nơi đăt hai ty Xá sai và Tướng thần lại, có nơi kiêm đặt hai ty Xá sai và Lệnh sử để trông coi việc từ tụng của quân dân, sổ sách đinh điền và trưng thu thuế ruộng. Đầu năm sau, năm 1615, các quy chế mới về chức trách và quyền hạn của các phủ, huyện được ban hành. Theo quy chế này thì Tri phủ, Tri huyện giữ việc từ tụng; các thuộc viên: Đề lại, Thông lại chuyên việc tra khám, Huấn đạo, Lễ sinh chuyên việc tế tự... Năm 1620 Nguyễn Phúc Nguyên lấy lý do chúa Trịnh vô cớ gây chiến đã quyết định chấm dứt hoàn toàn việc nộp cống thuế cho chính quyền Lê - Trịnh. Năm 1630 chúa Nguyễn Phúc Nguyên đã làm theo kế của Đào Duy Từ trả lại sắc của chúa Trịnh Tráng[5]. Đây không chỉ là sự khẳng định dứt khoát chính quyền chúa Nguyễn ở phía Nam là chính quyền độc lập, cắt đứt hẳn mọi quan hệ lệ thuộc với chính quyền Lê - Trịnh ở phía Bắc, mà còn đánh dấu quá trình chuyển đổi căn bản từ một chính quyền địa phương, mang nặng tính chất quân sự của nhà Lê - Trịnh sang một chính quyền dân sự của chúa Nguyễn. Đặc biệt trong quan hệ đối ngoại chúa Nguyễn Phúc Nguyên là vị chúa Nguyễn đầu tiên tự xưng là An Nam Quốc Vương, quan hệ với các nước trong tư thế của một quốc gia độc lập có chủ quyền. GS Kawamoto Kuniye cho rằng điều này đã “biểu lộ nhận thức quốc tế của chúa Nguyễn trước thời đại mới” [6]. Cải cách hành chính của Nguyễn Phúc Nguyên là cải cách có ý nghĩa then chốt, đặt cơ sở cho những bước tiến xa hơn và vững chắc hơn của triều đình chúa Nguyễn nói riêng và đất nước nói chung. 2. Mở rộng quan hệ giao thương với nước ngoài, thúc đẩy kinh tế hàng hoá trong nước, xây dựng Hội An thành thương cảng quốc tế phồn thịnh Cầu Nhật Bản giữa lòng Hội An phố cổ (nguồn: ewenbell.com) Năm 1602 chúa Nguyễn Hoàng có một quyết định hết sức sáng suốt là giao cho Nguyễn Phúc Nguyên làm trấn thủ dinh Quảng Nam, một vùng “đất tốt, dân đông, sản vật giàu có” và giữ vị trí “yết hầu của miền Thuận Quảng” [7]. Bối cảnh chính trị - kinh tế thế giới và khu vực giai đoạn cuối thế kỷ XVI đầu thế kỷ XVII đã tạo thêm nhiều điều kiện thuận lợi để có thể khai thác và đánh thức nguồn lực trong nước. Chúa Nguyễn Phúc Nguyên trong thực tế phải được coi là người Việt Nam đầu tiên thực sự thành công trong chiến lược mở rộng quan hệ giao thương với nước ngoài và thúc đẩy kinh tế hàng hoá và đô thị trong nước phát triển lên một trình độ mới. Trong số các nước phương Đông, Nguyễn Phúc Nguyên đặc biệt quan tâm đến Nhật Bản. Ông không chỉ chủ động xúc tiến quan hệ giao thương với tư cách chính thức của vị đứng đầu nhà nước An Nam (An Nam Quốc Vương), tạo mọi điều kiện thuận lợi cho thương nhân đến sinh sống, buôn bán ở Hội An, mà còn cho con gái yêu quý của mình sang làm dâu một gia đình thương nhân Nhật Bản ở Nagasaki để thắt chặt hơn nữa quan hệ với giới đại thương Nhật. Người con rể của Nguyễn Phúc Nguyên là Araki Sotaro vốn thuộc dòng dõi samurai ở Kumamoto đi thuyền mang cờ hiệu của công ty Đông Ấn Hà Lan VOC đến cập cảng Hội An vào năm 1619. Theo sách Ngoại phiên thông thư (quyển 13, tr 87-88) thì cũng đúng vào năm đó chúa Nguyễn Phúc Nguyên quyết định gả con gái của mình cho nhà lái buôn Nhật Bản tài ba này. Ít lâu sau cô đã theo người chồng Nhật Bản về định cư ở Nagasaki. Cô công chúa họ Nguyễn có cuộc sống thật sự hạnh phúc, đắc ý cùng chồng, để lại nhiều dấu ấn tốt đẹp trên đất Nhật Bản[8]. Mở cửa thương cảng Hội An, cấp phép cho thuyền buôn ra vào Thương cảng Hội An tấp nập một thời (Nguồn: ngochieuphoto.com) Từ năm 1593 Mạc phủ Toyotomi bắt đầu thi hành chính sách Châu ấn thuyền (Shuinsen) cấp giấy phép cho thuyền buôn mở rộng quan hệ thông thương với các nước Đông Nam Á. Nguyễn Phúc Nguyên đã cho mở rộng thương cảng Hội An trở thành thương cảng chính không chỉ của Đàng Trong mà trên toàn khu vực tương đương với Việt Nam và Đông Nam Á hiện nay đón nhiều nhất số thuyền buôn Nhật Bản được cấp giấy phép chính thức. Theo nghiên cứu của GS Iwao Seiichi thì từ năm 1604 cho đến năm 1634 (tương đương với thời kỳ Nguyễn Phúc Nguyên được giao là Trấn thủ dinh Quảng Nam (1602) và lên ngôi Chúa (1613-1635), Mạc phủ đã cấp 331 giấy phép đến 19 cảng thuộc khu vực Đông Nam Á (bình quân 1 cảng là 17,42 giấy phép) và 130 giấy phép đến 6 cảng thuộc khu vực tương đương với Việt Nam hiên nay (bình quân 1 cảng là 14,33 giấy phép). Riêng cảng Hội An có 86 thuyền được cấp giấy phép (chiếm 25,98% số giấy phép cấp cho toàn bộ khu vực Đông Nam Á, gấp gần 5 lần tỷ số bình quân chung cho khu vực và chiếm 66,15% số giấy phép cấp cho toàn bộ khu vực Việt Nam, gấp 6 lần tỷ số bình quân chung cho Việt Nam) [9]. Bên cạnh thuyền buôn Nhật Bản, thuyền buôn Trung Quốc, Đông Nam Á và nhất là thuyền buôn phương Tây cũng cập bến Hội An ngày một nhiều hơn và thường xuyên hơn. Christoforo Borri nhận xét: “Chúa Đàng Trong [Chúa Nguyễn Phúc Nguyên] không đóng cửa trước một quốc gia nào, ngài để cho tự do và mở cửa cho tất cả người ngoại quốc, người Hà Lan cũng tới như những người khác, cùng với tàu chở rất nhiều hàng hoá của họ” [10]. Trong bối cảnh giao lưu buôn bán quốc tế tấp nập và sôi động như vậy, Hội An những thập kỷ đầu thế kỷ XVII đã đột khởi trở thành một đô thị, cảng thị quốc tế tiêu biểu ở khu vực châu Á[11]. Giáo sĩ dòng Tên người Ý là Christoforo Borri, sống tại thị trấn Nước Mặn (nay thuộc huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định) những năm 1618-1622 đã mô tả về Hội An như sau: “Hải cảng đẹp nhất, nơi tất cả người ngoại quốc đều tới và cũng là nơi có hội chợ danh tiếng chính là hải cảng thuộc tỉnh Quảng Nam… Chúa Đàng Trong xưa kia cho người Nhật người Hoa chọn một địa điểm và nơi thuận tiện để lập một thành phố cho tiện việc buôn bán như chúng tôi đã nói. Thành phố này gọi là Faifo (Hội An), một thành phố lớn đến độ người ta có thể nói được là có hai thành phố, một phố người Hoa và một phố người Nhật. Mỗi phố có một khu vực riêng, có quan cai trị riêng, và sống theo tập tục riêng. Người Hoa có luật lệ và phong tục của người Hoa và người Nhật cũng vậy” [12]. Đây là sự phát triển trội vượt, một hiện tượng kinh tế - xã hội hết sức độc đáo chưa từng xuất hiện trước đó, cũng không thấy lặp lại ở bất cứ đô thị nào trên đất Việt Nam nhiều thế kỷ tiếp sau. Kỳ sau: Mở rộng vùng Nam Bộ - Xây dựng đội Hoàng Sa, xác lập chủ quyền trên các vùng biển giữa Biển Đông GS.TS Nguyễn Quang Ngọc (Viện Việt Nam học và Khoa học phát triển) * Bài trích từ tham luận tại Hội thảo về chúa Nguyễn và vương triều Nguyễn trong Lịch sử Việt Nam" ngày 18 - 19/10/2008. Nguyễn Phúc Nguyên: vị chúa của những kỳ công mở cõi đầu thế kỷ XVII Nguyễn Phúc Nguyên ngay từ nhỏ đã nổi tiếng là người thông minh, dũng lược. Năm 22 tuổi là tướng chỉ huy một đội thuỷ quân đánh thắng 5 chiếc tầu của ngoại bang đến cướp phá ở vùng Cửa Việt, được khen là bậc “anh kiệt”. Năm 40 tuổi được giao làm Trấn thủ Quảng Nam, ông đã mở rộng giao lưu buôn bán với các nước phương Đông và phương Tây (đặc biệt là Nhật Bản), xây dựng Hội An thành cảng thị quốc tế phồn thịnh - mà ngày nay đã được công nhận là Di sản Văn hoá Thế giới. Năm 51 tuổi, trở thành người đứng đầu chính quyền chúa Nguyễn, ông đã cải cách nền hành chính, phát triển đất nước về mọi mặt, mở mang lãnh thổ xuống tận khu vực miền Đông và một phần miền Tây Nam Bộ - khởi dựng hình hài lãnh thổ Tổ quốc Việt Nam hiện nay. Ông là người đầu tiên đặt ra đội Hoàng Sa đặc trách công việc khai thác và bảo vệ Biển Đông từ tuyến ngoài - một hình thức độc đáo của quá trình khai chiếm, xác lập và thực thi chủ quyền trên các vùng quần đảo giữa Biển Đông. Dưới quan điểm sử học mới, càng ngày chúng ta càng nhận ra rõ hơn, đầy đủ và chân xác hơn bức chân dung toàn hảo của ông - một vị chúa Nguyễn kiệt xuất nhất trong lịch sử dân tộc, một người Anh hùng đứng ở vị trí hàng đầu của những Anh hùng Mở cõi Việt Nam. ----------------------------------------------------------------- Ghi chú: [1] Lê Quý Đôn: Toàn tập (Phủ Biên tạp lục), T.1, Bản dịch Nxb KHXH, Hà Nội, 1977, tr 50. [2] Quốc sử quán triều Nguyễn: Đại Nam thực lục, T.1, Bản dịch Nxb Giáo dục, Hà Nội, 2002, tr 38. [3] Quốc sử quán triều Nguyễn: Đại Nam thực lục, T.1, Bản dịch đã dẫn, tr 37. [4] Vũ Minh Giang: Đào Duy Từ đã chọn Nguyễn Phúc Nguyên để phò giúp, trong Đào Duy Từ (1572-1634) Thân thế và sự nghiệp, Thanh Hoá, 1993, tr 153. [5] Quốc sử quán triều Nguyễn: Đại Nam thực lục, TI, Bản dịch đã dẫn, tr 45- 46. [6] GS Kawamoto Kunye: Nhận thức quốc tế của chúa Nguyễn ở Quảng Nam trong Đô thị cổ Hội An, Nxb KHXH, H, 1991, tr 178. Trong bài viết này tác giả đã căn cứ theo sách Ngoại phiên thông thư xác định đời chúa Nguyễn Hoàng còn ghi hiệu mỗi lần khác nhau, không thống nhất, nhưng từ đời chúa Nguyễn Phúc Nguyên trở đi đều tự xưng là An Nam Quốc Vương để phát triển hệ thống ngoại giao với các nước, trong đó có Nhật Bản. [7] Quốc sử quán triều Nguyễn: Đại Nam thực lục, T.1, Bản dịch đã dẫn, tr 35- 36. [8] Tham khảo Nguyễn Quang Ngọc: Về quan hệ giao thương Nhật – Việt đầu thế kỷ XVII qua cảng Nagasaki trong Kỷ yếu Nghiên cứu Văn hoá quốc tế của Đại học nữ Chiêu Hoà số 9, năm 2003, tr 111-115. Tại Nagasaki đến nay vẫn còn dấu tích khu nhà ở, di tích mộ vợ chồng Araki, bia đá, gương đồng (là của hồi môn của công chúa), phong tục cúng giỗ và nhất là lễ hội rước công chúa hàng năm vẫn được tổ chức vào mùa thu tại khu Motoshikkui. [9] Giấy phép Mạc phủ chính thức cấp cho thuyền buôn ra nước ngoài buôn bán được gọi là Shuinijo. Tham khảo thêm Vũ Minh Giang: Người Nhật, phố Nhật và di tích Nhật Bản ở Hội An trong Đô thị cổ Hội An, Sđd tr 206-207. [10] Christoforo Borri, Xứ Đàng Trong năm 1621, Bản dịch Nxb thành phố Hồ Chí Minh, 1998, tr 92. [11] Ngày 4 tháng 12 năm 1999 UNESCO đã ghi Đô thị cổ Hội An vào danh sách Di sản văn hoá Thế giới vì “Hội An là biểu hiện vật thể nổi bật của sự kết hợp các nền văn hoá qua các thời kỳ trong một thương cảng quốc tế” (tiêu chí 2) và “Hội An là điển hình tiêu biểu về một cảng thị châu á truyền thống được bảo tồn một cách hoàn hảo” (tiêu chí 5). Tất cả những đặc điểm nổi bật này của cảng thị Hội An đều được khẳng định một cách tuyệt đối trong thời kỳ trị vì của chúa Nguyễn Phúc Nguyên. [12] Christoforo Borri, Xứ Đàng Trong năm 1621, Bản dịch đã dẫn, tr 91-92. Đây là một bài viết mà tôi sưu tầm trên trang TUANVIETNAM ngày 22 tháng 11 năm 2008. Chia xẻ!


Ta đã làm gì?

Published on 09:41, 11/17,2008

Dạo này thiên tai diễn ra nhiều quá. Cường độ và mật độ ngày càng lớn. Bão, động đất, mưa to, hỏa hoạn, sóng thần.... Thiên nhiên đang nổi giận! Vì sao? Chính là chúng ta! Chúng ta đang phá rừng, khai thác tài nguyên một cách tàn nhẫn, rồi chúng ta lại xả chất thải ra. Chúng ta chăm chăm thu vén lấy một chút gì cho riêng mình mà chẳng cần nhìn đến tương lai. Và chỉ cần một cú cựa mình của thiên nhiên, tất cả lại trở thành tro bụi, thậm chí còn hơn thế nữa. Đọc bài viết của một nhà báo lão luyện nước ngoài mới giật mình thấy rằng nếu đem so những thiệt hại do biến đổi khí hậu gây ra lên tới hàng nghìn tỷ đôla thì mới thấy những nỗ lực phát triển, cứu trợ .... vài triệu, vài trăm triệu thậm chí vài tỷ đôla có đáng gì. Có ai nhận thấy điều đó? Dường như không chỉ có thiên nhiên là bất ổn, mà lòng người cũng bất an và tàn nhẫn hơn. Dẫn chứng: Rau phun thuốc trừ sâu, kẹo làm từ bột đá, lợn chết, gà chết, chó chết được thu gom và chế biến lại, chim cò bị đánh bẫy bằng thuốc trừ sâu.... Tất cả được chúng ta đem đi bán cho đồng loại của mình. Lương tâm để đi đâu? Tôi vẫn tự hỏi: Điều gì đang xảy ra? Ai cũng thấy! Điều gì sẽ xảy ra? Ai biết?


Chia xẻ

Published on 10:15, 11/15,2008

Tôi vốn không có ý định viết Blog bởi dường như đây không phải là nơi dành cho yếu tố cá nhân của mỗi người. Vẫn biết cái gì cũng có hai mặt, nhưng dù sao tôi cũng mong muốn gặp được những người thực sự đồng cảm với mình, chia xẻ và không hại nhau, cùng hướng tới một ngày mai tươi sáng hơn và có nhiều nụ cười hơn.
Trong phạm vi khả năng của mình, tôi sẽ chia xẻ những cảm nhận của mình về cuộc sống, công việc và về chính bản thân tôi.
Xin cảm ơn!